AILuyenThi.comAI Luyện Thi
Kỳ thi tốt nghiệp THPT: cấu trúc và cách chọn môn

Cấu trúc đề các môn tự chọn thi tốt nghiệp THPT: số câu, điểm từng phần, phần riêng

Các môn tự chọn thi tốt nghiệp THPT chia ba kiểu cấu trúc đề. Bảng số câu, điểm từng phần theo đề minh hoạ và ý nghĩa của nó khi bạn chọn môn, chia giờ.

Two students seen from behind sitting side by side on a low wall outside a school in Quang Ninh, comparing two stacks of blank practice sheets, cloudy morning

Theo đề minh hoạ áp dụng từ năm 2025, các môn tự chọn thi trắc nghiệm trong 50 phút và chia thành ba kiểu cấu trúc: kiểu có đủ ba phần gồm nhiều lựa chọn, đúng – sai và trả lời ngắn; kiểu hai phần gồm nhiều lựa chọn và đúng – sai; và kiểu chỉ có câu nhiều lựa chọn như Tiếng Anh. Nhìn từ xa, hai môn cùng 50 phút có vẻ giống nhau, nhưng thời gian dành cho mỗi phần và cách mất điểm lại khác hẳn.

Bài này gom cấu trúc các môn tự chọn vào một chỗ để bạn so sánh khi chọn môn và khi lập kế hoạch luyện đề. Số câu và điểm dưới đây lấy theo đề minh hoạ và hướng dẫn chấm áp dụng từ năm 2025; Bộ GD&ĐT có thể điều chỉnh, nên bạn luôn đối chiếu với đề minh hoạ của đúng môn và đúng năm mình thi. Bài chỉ nói về khung đề; kiến thức và mẹo ôn từng môn nằm ở danh mục ôn môn tự chọn của trang.

Bảng cấu trúc đề các môn tự chọn

Bảng dưới tóm tắt cấu trúc theo đề minh hoạ áp dụng từ năm 2025. Mỗi câu nhiều lựa chọn và mỗi câu trả lời ngắn ở các môn này được 0,25 điểm; mỗi câu đúng – sai tối đa 1 điểm, tính theo số ý làm đúng.

MônNhiều lựa chọnĐúng – saiTrả lời ngắnGhi chú
Vật lý18 câu4 câu6 câuĐủ ba phần
Hoá học18 câu4 câu6 câuĐủ ba phần
Sinh học18 câu4 câu6 câuĐủ ba phần
Địa lý18 câu4 câu6 câuPhần trả lời ngắn chủ yếu tính từ bảng số liệu
Lịch sử24 câu4 câuKhông cóHai phần
Giáo dục kinh tế và pháp luật24 câu4 câuKhông cóHai phần
Tin học24 câu4 câuKhông cóCó phần chung và phần riêng theo định hướng
Công nghệ24 câu4 câuKhông cóTheo định hướng Công nghiệp hoặc Nông nghiệp
Tiếng Anh40 câuKhông cóKhông cóChỉ có câu nhiều lựa chọn

Cộng điểm từng cột sẽ thấy mọi môn đều tròn 10 điểm. Ví dụ với Vật lý: 18 câu nhiều lựa chọn được 4,5 điểm, bốn câu đúng – sai 4 điểm, sáu câu trả lời ngắn 1,5 điểm. Với Lịch sử: 24 câu nhiều lựa chọn 6 điểm, bốn câu đúng – sai 4 điểm.

Các ngoại ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Đức, tiếng Nga cũng thi trắc nghiệm, nhưng cấu trúc từng đề bạn xem riêng trong đề minh hoạ của ngoại ngữ đó.

Điểm chung đáng chú ý: phần đúng – sai luôn chiếm bốn điểm

Nhìn bảng, có một điểm chung dễ bỏ qua: trừ Tiếng Anh, mọi môn tự chọn đều có bốn câu đúng – sai, và phần này luôn chiếm bốn điểm trên mười. Nghĩa là dù bạn chọn Vật lý hay Lịch sử, gần một nửa số điểm môn đó nằm ở dạng câu mà làm đúng ba ý chỉ được một nửa điểm câu.

Hệ quả là kỹ năng làm câu đúng – sai không phải kỹ năng riêng của một môn mà là kỹ năng chung cho cả hai môn tự chọn của bạn, cộng thêm Toán. Học sinh luyện kỹ dạng này ở một môn thường mang được thói quen đọc từng ý, gạch chân từ then chốt, kiểm điều kiện sang môn kia. Đây là lý do bạn nên luyện dạng đúng – sai đều tay ở cả hai môn ngay từ đầu kỳ ôn, chứ không đợi đến lúc luyện đề tổng hợp.

Cũng vì điểm chung này, khi so sánh hai môn đang cân nhắc, bạn đừng chỉ nhìn kết quả phần nhiều lựa chọn. Hãy tách riêng điểm phần đúng – sai trong lần làm đề minh hoạ của mỗi môn. Một môn bạn làm nhiều lựa chọn tốt nhưng đúng – sai chỉ được lẻ tẻ sẽ khó lên điểm hơn bạn nghĩ.

Ba kiểu cấu trúc đòi hỏi ba kiểu chia giờ

Kiểu đủ ba phần. Ở Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý, bạn có 28 câu trong 50 phút, nhưng sáu câu trả lời ngắn thường cần tính nhiều bước và không có phương án để dò. Nguy cơ lớn nhất là mất quá nhiều thời gian ở phần đúng – sai rồi làm vội phần trả lời ngắn. Khi luyện, bạn nên ghi riêng thời gian cho từng phần để biết mình hay kẹt ở đâu.

Kiểu hai phần. Ở Lịch sử, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học, Công nghệ, bạn cũng có 28 câu nhưng không có phần tính toán cuối đề. Áp lực chuyển sang việc đọc: 24 câu nhiều lựa chọn với nhiều tư liệu, tình huống, rồi bốn câu đúng – sai có đoạn dẫn dài. Tốc độ đọc và độ chính xác khi đọc quyết định phần lớn kết quả.

Kiểu một phần. Tiếng Anh có 40 câu nhiều lựa chọn trong 50 phút, tức trung bình hơn một phút một câu, trong khi nhiều câu nằm trong các bài đọc dài. Ở đây, chiến lược thời gian gắn với thứ tự làm các bài đọc và khả năng đọc nhanh mà không sót ý. Dạng bài cụ thể của Tiếng Anh được phân tích ở danh mục ôn Tiếng Anh của trang.

Hai môn liền nhau trong một buổi. Hai môn tự chọn thi chung một buổi, mỗi môn tính giờ riêng. Nếu bạn chọn hai môn khác kiểu cấu trúc, chẳng hạn Địa lý và Lịch sử, bạn phải chuyển nhịp làm bài giữa hai môn. Luyện vài lần làm liền hai đề theo đúng thứ tự thi giúp bạn quen việc chuyển nhịp này.

Tin học và Công nghệ: chú ý phần riêng theo định hướng

Hai môn Tin học và Công nghệ có điểm khác các môn còn lại: chương trình lớp 12 chia theo định hướng, nên đề cũng có phần gắn với định hướng mà bạn học. Với Tin học, đề minh hoạ gồm phần chung cho mọi thí sinh và phần riêng theo định hướng Khoa học máy tính hoặc Tin học ứng dụng. Với Công nghệ, đề gắn với định hướng Công nghiệp hoặc Nông nghiệp.

Điều cần làm là xác nhận với nhà trường bạn đang học định hướng nào, và khi đăng ký dự thi chọn đúng phần đề tương ứng theo hướng dẫn năm đó. Học một định hướng mà làm phần đề của định hướng kia là mất điểm oan ở phần riêng. Khi luyện đề, bạn cũng chỉ dùng đề có phần riêng đúng định hướng của mình, hoặc bỏ qua phần riêng của định hướng khác trong các đề luyện.

Do chương trình Tin học và Công nghệ theo định hướng còn mới với kỳ thi, nguồn đề luyện ít hơn các môn truyền thống. Đây là yếu tố thực tế nên cân nhắc khi chọn môn: bạn có giáo viên kèm và tài liệu đủ để luyện không. Nếu dùng AI tạo thêm câu luyện cho hai môn này, bạn càng phải kiểm kỹ, vì AI có thể trộn kiến thức của chương trình cũ hoặc của định hướng khác.

Dùng AI so cấu trúc hai môn đang cân nhắc

Khi phân vân giữa hai môn, bạn có thể nhờ AI xếp cấu trúc hai đề cạnh nhau, rồi tự điền phần dữ liệu về bản thân. Trình tự gợi ý:

  1. Tải đề minh hoạ hai môn đang cân nhắc, cùng năm, từ nguồn chính thức.
  2. Dán cả hai đề vào chatbot và gõ: "Lập bảng so sánh hai đề: số câu từng phần, điểm từng phần, số câu có bảng số liệu hoặc tư liệu, số câu cần tính toán. Chỉ dùng thông tin trong hai đề. Không nhận xét đề nào dễ hơn."
  3. Đếm lại số câu từng phần bằng tay để chắc bảng đúng.
  4. Làm mỗi đề một lần bấm giờ, ghi điểm và thời gian từng phần vào cùng bảng.
  5. Hỏi tiếp: "Với kết quả làm bài này, mình mất điểm nhiều nhất ở phần nào của mỗi môn? Gợi ý ba câu hỏi mình nên tự trả lời trước khi chọn." Câu trả lời dùng để bạn suy nghĩ, không phải để chọn hộ.

Lý do dặn AI "không nhận xét đề nào dễ hơn" là vì nhận định đó không có căn cứ khi chưa biết bạn học thế nào. Một đề có ít câu tính toán chỉ dễ với người đọc nhanh; một đề có phần trả lời ngắn chỉ khó với người tính ẩu. Dữ liệu làm bài của chính bạn mới cho biết điều đó. Khi dán kết quả làm bài vào, bạn không cần kèm họ tên hay tên trường.

Những gì bảng cấu trúc không nói với bạn

Bảng cấu trúc cho bạn số câu, dạng câu và điểm, nhưng không cho biết độ dài ngữ liệu, mức độ khó hay nội dung cụ thể. Hai môn cùng 28 câu có thể khác nhau rất nhiều về lượng chữ phải đọc. Vì vậy sau khi xem bảng, bạn vẫn phải đọc từng đề minh hoạ và làm thử.

Bảng cũng không nói về sự ổn định. Cấu trúc được giữ để học sinh có thời gian chuẩn bị, nhưng chi tiết như số câu từng phần có thể được điều chỉnh. Mỗi đầu năm học lớp 12, bạn kiểm xem Bộ có công bố đề minh hoạ hay đề tham khảo mới không, và so với bảng của mình.

Cuối cùng, bảng không thay được phần quyết định chọn môn. Cấu trúc đề chỉ là một trong năm yếu tố, cùng với môn đã học ở lớp 12, tổ hợp xét tuyển, sức học thật và thời gian ôn. Danh mục này có bài riêng về cách chọn hai môn tự chọn theo năm câu hỏi đó.

Một cách dùng bảng hợp lý là dán nó vào trang đầu sổ ôn thi, cạnh lịch ôn từng tuần. Mỗi lần luyện đề một môn tự chọn, bạn ghi thời gian thực tế của từng phần ngay cạnh số câu trong bảng. Sau vài tuần, trang đó trở thành bản đồ của riêng bạn: môn nào phần nào hay vượt giờ, phần nào điểm chưa ổn định, và từ đó bạn biết buổi ôn tới nên dồn vào đâu.

Câu hỏi thường gặp

Môn nào trong các môn tự chọn có câu trả lời ngắn?

Theo đề minh hoạ áp dụng từ năm 2025, Vật lý, Hoá học, Sinh học và Địa lý có phần trả lời ngắn với sáu câu. Lịch sử, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học và Công nghệ chỉ có hai phần, còn Tiếng Anh chỉ có câu nhiều lựa chọn.

Đề Tiếng Anh thi tốt nghiệp có bao nhiêu câu?

Theo đề minh hoạ áp dụng từ năm 2025, đề Tiếng Anh có 40 câu nhiều lựa chọn, làm trong 50 phút, mỗi câu 0,25 điểm. Bạn kiểm lại đề minh hoạ của năm mình thi vì số câu có thể được điều chỉnh.

Đề Lịch sử có câu đúng – sai không?

Có. Theo đề minh hoạ áp dụng từ năm 2025, đề Lịch sử gồm 24 câu nhiều lựa chọn và 4 câu đúng – sai, không có phần trả lời ngắn. Phần đúng – sai chiếm 4 điểm và thường có đoạn tư liệu dài.

Thi Tin học tốt nghiệp có phải học cả hai định hướng không?

Không. Đề Tin học có phần chung cho mọi thí sinh và phần riêng theo định hướng Khoa học máy tính hoặc Tin học ứng dụng. Bạn làm phần riêng đúng định hướng mình học, xác nhận với nhà trường và theo hướng dẫn đăng ký năm thi.

Môn có ít câu tính toán thì có dễ hơn không?

Không nhất thiết. Môn ít tính toán thường đòi đọc nhiều tư liệu và tình huống hơn, nên khó với người đọc chậm. Cách biết môn nào hợp với bạn là làm đề minh hoạ bấm giờ của từng môn và so điểm từng phần.

Mỗi câu nhiều lựa chọn ở môn tự chọn được bao nhiêu điểm?

Theo hướng dẫn chấm áp dụng từ năm 2025, mỗi câu nhiều lựa chọn ở các môn tự chọn được 0,25 điểm, mỗi câu trả lời ngắn cũng 0,25 điểm, còn mỗi câu đúng – sai tối đa 1 điểm tính theo số ý đúng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138